Trường An – Cố đô ngàn năm

Đánh giá bài viết này

Trong suốt quá trình từ khi nhà Ân suy tàn đến thời Bắc Tống khoảng 2000 năm, lưu vực sông Hoàng Hà là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Trung Quốc. Thành Tây An mà xưa gọi là Trường An, từ thời Tây Hán đến Tùy Đường là nơi định đô của 11 triều đại. Trải qua hơn 1100 năm, Trường An không chỉ đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa cổ đại Trung Quốc, mà còn là bức tranh khắc họa việc giao lưu kinh tế, văn hóa của toàn thế giới. Sau Trường An là Lạc Dương, tất cả có 9 triều đại đã đóng đô tại đây trong quãng thời gian gần một ngàn năm, vì vậy mà Lạc Dương còn có tên gọi khác là “Cửu triều cố đô” (nghĩa là cố đô của 9 triều đại). Mảnh đất Lạc Dương cũng là nơi sinh ra rất nhiều nhà văn, nhà khoa học, nhà sử học. Họ đã đóng góp nhiều tác phẩm, thành quả nghiên cứu có giá trị to lớn cho kho tàng văn hóa Trung Quốc và thế giới.

Trường An (tên gọi của Tây An khi xưa), là đô thành phồn hoa của Trung Quốc cổ đại. Trường An vốn có nghĩa là “Trường trị cửu an” (Đất nước thái bình thịnh trị mãi mãi). Hiện nay, Trường An, Cairo, Athen, La Mã (Roma) được gọi là “Thế giới tứ đại cố đô” (Bốn cố đô lớn nhất thế giới).

Trường An - Cố đô ngàn năm

Trường An có lịch sử lâu đời. Hán Cao Đế lên ngôi và định đô tại đây trong 7 năm, sau đó Tây Hán, Đông Hán (Hiến Sơ Đế), Tây Tấn (Tấn Mẫn Đế), Tiền Triệu, Tiền Tần, Hậu Tần, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường nối tiếp lấy Trường An là trung tâm kinh tế, văn hóa đối ngoại. Thời Tây Hán, đây là nơi cư trú của người nước ngoài khi đến Trung Quốc, phần đông là khách đến từ châu Á và Ba Tư.

Các khu di tích lịch sử nổi tiếng ở Tây An gồm có: Lăng mộ Tần Thủy Hoàng, Tượng binh mã. Đại Nhạn tháp, Lầu Chuông, Tiểu Nhạn tháp, lăng Võ Tắc Thiên, di chỉ Bán Pha Tây An.

Lăng mộ Tần Thủy Hoàng nằm dưới chân núi Ly Sơn ở phía đông huyện Lâm Đồng cách thành phố Tây An khoảng 30km. Lịch sử có ghi, Tần Doanh Chính ngay sau khi lên ngôi vào năm 13 tuổi đã lập tức cho xây lăng viên, do thừa tướng trực tiếp đảm nhiệm thiết kế. Thời gian xây dựng lăng mộ kéo dài 38 năm. Đây là một công trình vĩ đại, là bao mồ hôi xương máu của người dân Trung Quốc, lăng mộ điển hình cho chế độ xã hội phong kiến.

Lăng mộ Tần Thủy Hoàng có chiều cao 43m, chu vi hơn 1700m, có hai vòng tường thành bao quanh. Thành bên trong có hình vuông, chu vi 3890m, hướng bắc có hai cổng, các hướng còn lại có một cổng. Thành bên ngoài chu vi 6294m, bốn mặt đều trổ cổng. Lăng mộ nằm ở phía nam của lăng viên.

Trong lăng mộ của Tần Thủy Hoàng có những địa đạo chôn tượng binh mã nằm ở phía đông của lăng viên, cách lăng viên 1500m. Tượng binh mã là vật an táng theo Tần Thủy Hoàng, đây là bảo tàng quân sự trong lòng đất lớn nhất thế giới. Các địa đạo được bố trí rất hợp lý, kết cấu đặc biệt, có chiều sâu khoảng 5m, cứ cách 3m lại có hai bức tường chắn ở phía tây và đông, tượng binh mã được đặt ở trong khoảng trống giữa các bức tường. Năm 1987, lăng mộ của Tần Thủy Hoàng và tượng binh mã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Lạc Dương nằm ở phía tây của tỉnh Hà Nam, là một trong bảy cố đô lớn nhất Trung Quốc. Lạc Dương có nghĩa là “Xứ sở mặt trời”. Xưa kia, khu vực Hà Lạc mà Lạc Dương là trung tâm là nơi đơm hoa kết trái của văn minh Hoa Hạ. Lạc Dương sớm gắn với những câu chuyện thần thoại và sự kiện lịch sử Trung Quốc như: Nữ Oa vá trời; Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ, vua Thái Khang định đô ở Châm Tần, vua Thương Thang định đô ở đất Bạc; Vũ Vương phạt Trụ; Chu Công giúp xây dựng xã tắc, xây dựng kinh đô ở Lạc ấp; nhà Ngụy nhà Tấn nhường ngôi cho nhau; Thương Ưởng sửa đổi pháp chế; sự hưng thịnh của Tùy, Đường; tiếp đó là sự rối ren của các vương triều phong kiến Hậu Lương, Đường Tấn, cả thảy có 13 vương triều kế vị nhau. Từ sau thời Hán, Ngụy, Lạc Dương trở thành trung tâm giao lưu quốc tế, đến thời Tùy Đường thì nơi đây đã trở thành một kinh đô phồn thịnh, hàng năm nước chư hầu đến để quy thuận, cống nạp. Một thời gian dài trong lịch sử, Lạc Dương là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa, đồng thời cũng là một đầu mối giao thông quan trọng trong khu vực. Con đương tơ lụa mà Lạc Dương là khởi điểm phía đông dẫn đến bờ Đông của Địa Trung Hải.

Động Long Môn cách Lạc Dương 12km về phía nam cùng với hai động Vân Cương ở Đại Đồng và động Mạc Cao ở Đôn Hoàng là ba động lớn nhất Trung Quốc. Năm 2000, động Long Môn được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Hiện tại ở Long Môn đang bảo tồn được hầu hết những hang đá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ, ở đây hiện thời có khoảng 2000 hang động lớn nhỏ, hơn 60 tháp Phật, hơn mười vạn bức tượng, trên dưới 2800 phiến đá khắc chữ cổ. Động ở đây được phân ra làm hai loại: động nhà Ngụy và động nhà Đường.

Chùa Bạch Mã cũng là một trong những thắng cảnh của Lạc Dương. Vào thời Bắc Ngụy, Đường, Tống, khi Phật giáo ở Trung Quốc đang trên đà phát triển mạnh, ngôi chùa được trùng tu rất nguy nga. Có thời điểm trong chùa có tới hơn 1000 hòa thượng. Hằng ngày, tăng ni trong chùa cùng nhau lên điện niệm kinh từ sáng sớm cho đến tối. Những đên trăng thanh gió mát, tất cả tăng ni phật tử cùng gióng chuông gõ mõ lễ Phật thâu đêm. Trong màn đêm tĩnh mịch, tiếng chuông chùa ngân nga, vang xa đến chục dặm, khiến tâm hồn con người thanh thản. Đến triều Minh trong chùa có thêm một quả chuông nặng 2500kg, tiếng chuông nghe rất vang. Theo lời kể của những người dân nơi đây, tiếng chuông này và tiếng chuông ở tháp chuông trên một con phố nằm ở phía đông Lạc Dương có sự tương quan kỳ diệu. Dân gian tương truyền, gõ chuông phía đông thì chuông phía tây vang lên. Những giai thoại đó góp phần khiến cho chông của chùa Bạch Mã được mệnh danh là kỳ quan thứ tám của Lạc Dương.