Phân tích tác phẩm: “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn

Phân tích tác phẩm: “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn

Đánh giá bài viết này


Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là một trong những áng văn hùng hồn, thống thiết hiếm có trong si sản Hán văn của dân tộc ta, được liệt vào hàng “thiên cổ hùng văn”, nghĩa là áng văn hùng tráng của muôn đời.

Bài hịch này nguyên bằng chữ Hán, được chép trong Đại Việt sứ ký toàn thư do Lê Văn Hưu khởi đầu, Ngô Sĩ Liên và nhiều sử gia khác kế tục hoàn thành, vốn không có đầu đề. Đến đầu thế kỷ này, các học giả đem dịch, giới thiệu rộng rãi cho quốc dân, đặt nhan đề là Hịch tướng sĩ văn. Gần đây các tác giả bộ Thơ văn Lý – Trần mới đặt tên là Dụ chư tì tướng hịch văn, song đông đảo người đọc vẫn quen với Hịch tướng sĩ.

Hịch là thể văn nghị luận cổ xưa dùng để tập hợp lực lượng, lên án kẻ thù, kêu gọi hành động, răn dạy, vỗ về quân sĩ, dân chúng. Người ta cũng gọi hịch là lộ bố, nghĩa là ban bố công khai cho mọi người ai nấy đều hay. Hịch không phải là thể loại văn thời bình, càng không phải thể văn của sinh hoạt đời thường. Đó là thể văn được viết ra vào những thời khắc khủng hoảng, khi Tổ quốc lâm nguy, gian đảng tiếm quyền hay tai hoạ khủng khiếp đe doạ tính mạng dân chúng, đòi hỏi mọi người đồng sức, đồng lòng đứng lên khắc phục. Để tập hợp mọi người, hịch phải có lập trường chính nghĩa, quan điểm rõ ràng, chứng cớ xác thực, lời lẽ đanh thép. Để kêu gọi hành động, hịch phải biết kích động tình cảm, lời lẽ thống nhất, gây niềm công phẫn, đau đớn, khiến người có lương tâm không thể ngồi yên. Xét các yêu cầu đó, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn quả là một kiệt tác vô song. Đã hơn 700 năm trôi qua mà mỗi lần đọc lại, bài văn làm người đọc bồi hồi xúc động.

Bài hịch này được viết vào lúc nào, hiện chưa có ý kiến nhất trí. Theo tác giả sách Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam (1987) thì nó được công bố vào tháng 9 năm 1284 tại cuộc duyệt binh ở bến Đông Thăng Long.

Tháng 10 năm 1283, khi quân Nguyên một mặt cho quân đổ bộ xuống phía Bắc, yêu sách vua Trần cung cấp lương thảo và binh lính đi đánh Chiêm Thành, mặt khách chúng cho quân thuỷ đánh chiếm cảng Chiêm Thành (Quy Nhơn), đe doạ đem 50 vạn binh đánh nước ta, vua Trần trao cho Trần Hưng Đạo chức Tiết chế thống lĩnh chư quân (Tổng chỉ huy quân đội). Gần một năm trời Trần Quốc Tuấn nghiên cứu binh pháp, bố trí lực lượng chuẩn bị đánh giặc. Bài hịch vừa là lời răn dạy, vừa là lời bọc bạch tâm huyết, vừa là bản mệnh lênh quân sự, lại vừa là lời thề, đã làm nức lòng quân đội. Nhiều người tự nguyện thích lên cánh tay hai chữ “Sát Thát” biểu thị quyết tâm không đội trời chung với giặc. Hiệu quả ấy hẳn có liên quan tới nội dung và nghệ thuật của áng văn.

Bài hịch